Cập nhật ngày : 09-10-2018

Tình hình hoạt động công nghiệp, thương mại trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2018

Kết quả sản xuất công nghiệp, thương mại 9 tháng đầu năm 2018 Chỉ số SXCN tăng 8,29% so cùng kỳ, trong đó: CN chế biến, chế tạo tăng khá 8,61%; CN Cung cấp nước, QL và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,31%; Sản xuất và phân phối điện tăng 9,36%; CN khai khoáng tiếp tục giảm -6,8%. Giá trị SXCN ước đạt 29.504,7 tỷ đồng, tăng 8,91% so cùng kỳ, trong đó: Phân theo ngành Công nghiệp: CN chế biến, chế tạo 28.375 tỷ đồng, +9,13%; CN khai khoáng 290 tỷ đồng, -4,4%; CN Sản xuất và phân phối điện 644,8 tỷ đồng, +7,05% và CN Cung cấp nước, QL và xử lý rác thải, nước thải 192,8 tỷ đồng, +6,23% so cùng kỳ.


Lễ Khánh Thành Nhà máy Sản xuất Thức ăn chăn Nuôi CJ Bình Định tại tại KCN Nhơn Hòa


Tình hình sản xuất các SPCN chủ yếu: Nhìn chung, trong 9 tháng năm 2018, tình hình SXKD của các DN sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn do sản phẩm tiêu thụ chậm, tuy nhiên, hoạt động SXCN trong 9 tháng đầu năm 2018 vẫn có sự tăng trưởng khá, do một số sản phẩm chủ lực có sản lượng sản xuất tăng như: thủy sản ướp đông, thức ăn chăn nuôi, bia các loại, dung dịch truyền... Trong 54 sản phẩm công nghiệp chủ yếu, có 31 sản phẩm tăng, trong đó có 22 sản phẩm tăng cao hơn mức chung toàn tỉnh và 13 sản phẩm tăng trên 20%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ:48.197,4 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ.

Về Xuất khẩu: KNXK ước đạt 587,8 triệu USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ. Trong đó, một số mặt hàng xuất khẩu có giá trị KNXK tăng so với cùng kỳ như: sản phẩm từ chất dẻo (+70,2%); sản phẩm từ sắt thép (+44,4%); hàng dệt, may (+41,2%); gạo (+30,6%)… Một số mặt hàng có sự giảm sút mạnh so với cùng kỳ: mày móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng (-20,5%); sắn và các sản phẩm từ sắn (-12,8%)…

Về nhập khẩu: KNNK ước đạt 288 triệu USD tăng 35,5% so với cùng kỳ. Trong đó,một số sản phẩm có giá trị KNNK tăng so với cùng kỳ như: Vải các loại, máy móc thiết bị phụ tùng (tăng hơn 2 lần); nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày (+64,3%); hàng hóa khác (+38,9%); hang thủy sản (+23,5%);… Bên cạnh đó, có một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ như: phân bón (-57,1%); nguyên phụ liệu dược phẩm (-25,6%).

Nhiệm vụ và kế hoạch trong Quý IV năm 2018

Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, ngành Công Thương Bình Định tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được trong 9 tháng năm 2018 để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm 2018 như sau:

Phấn đấu chỉ số SXCN tăng khoảng 9,3% so cùng kỳ, dự kiến cả năm chỉ số SXCN tăng khoảng 8,7% so năm 2017 (thấp hơn kế hoạch đầu năm đề ra 9%);

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và dịch vụ xã hội đạt ước đạt 13.504,6 tỷ đồng, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 100% KH năm;

KNXK ước thực hiện 212,2 triệu USD để cả năm 2018 ước thực hiện 800 triệu USD đạt so với kế hoạch năm 2018;

KNNK ước thực hiện 80 triệu USD để cả năm 2018 ước thực hiện 368 triệu USD, tăng 15% so với kế hoạch năm 2018.

Để thúc đẩy hoạt động CN-TM hoàn thành mục tiêu kế hoạch của năm 2018, Sở Công Thương tiếp tục tập trung công tác quản lý ngành, chủ động triển khai và thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm trong quý IV năm 2018 như sau:

Hoàn thiện và triển khai các Quy hoạch, Kế hoạch của ngành, các Chương trình XTTM và công tác Khuyến công trọng tâm 2018 tỉnh.

Tiếp tụcquán triệt thực hiện Nghị quyết của Chính phủvề những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách năm 2018; ban hành Chương trình công tác trọng tâm năm 2018.

Tiếp tục triển khai Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động thực Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh Bình Định giai đoạn 2016 – 2020.

Xác định nhóm sản phẩm công nghiệp trong những tháng cuối năm để tập trung theo dõi, đôn đốc các DN hiện có đẩy mạnh SX. Tiếp tục phối hợp với các sở, ngành liên quan chỉ đạo các DN xây dựng và triển khai chính sách thu mua hợp lý, đảm bảo nguyên liệu đầu vào phục vụ cho các nhà máy chế biến có khả năng tạo giá trị SXCN lớn trên cơ sở đảm bảo hài hòa lợi ích giữa nông dân và nhà máy; Phối hợp các huyện, thị xã, thành phố, các sở ngành có liên quan, các cơ sở công nghiệp nông thôn triển khai, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các đề án khuyến công quốc gia năm 2018 đảm bảo theo đúng tiến độ đã đăng ký.

Tổ chức triển khai có hiệu quả các chương trình XTTM gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; đẩy mạnh các hoạt động XTTM tại thị trường nội địa, bán hàng khuyến mại, giảm giá để khuyến khích sử dụng hàng sản xuất trong nước. Tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác phân tích, dự báo, theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong nước và trong tỉnh, các yếu tố tác động đến giá cả hàng hóa; đặc biệt triển khai Kế hoạch dự trữ hàng hóa bảo đảm cân đối cung cầu, triển khai các chương trình bình ổn giá thị trường vào các tháng cuối năm 2018 và trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019; kịp thời đề xuất giải pháp khi thị trường có biến động bất ổn, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá. Chỉ đạo, tổ chức, vận động các DN phân phối lớn trên địa bàn chủ động tham gia dự trữ hàng hóa thiết yếu, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân vào các dịp lễ, Tết, khi xảy ra thiên tai, lũ lụt.

Bên cạnh đó, triển khai thực hiện các Kế hoạch phát triển Thương mại điện tử năm 2018; Kế hoạch triển khai công tác hội nhập kinh tế quốc tế tỉnh Bình Định năm 2018 tạo điều kiện cho DN chủ động trong sản xuất những sản phẩm có lợi thế, phù hợp với từng thị trường.

Ngoài ra, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện có hiệu quả Kế hoạch CCHC năm 2018 của Sở, thực hiện tốt văn phòng điện tử, điện tử liên thông; tiếp tục thực hiện cơ chế “Một cửa”tạo điều kiện thuận lợi cho cho DN, các tổ chức, cá nhân đến giải quyết thủ tục hành chính trên lĩnh vực CN-TM.


Phạm Thị Minh Hường  (  Phòng Kế hoạch - Tài chính - Tổng hợp  )



  • Currently 2.00/5

Kết quả: 2.0/5 - (2 phiếu)

Không tìm thấy các tin liên quan!